Viễn thông sau xu hướng sáp nhập lại nơm nớp chuyện độc quyền

 

1a.jpg

Điện thoại di động đã được “bình dân hoá” và đi đến mọi nhà, mọi người. Ảnh: Thái Anh

Viễn thông sau xu hướng sáp nhập lại nơm nớp chuyện độc quyền

ICTnews - Việt Nam hiện có quá nhiều doanh nghiệp viễn thông. Thời gian tới, nhà nước phải vững tay sắp xếp lại các doanh nghiệp thông qua việc thu hồi lại một số giấy phép, giải thể hoặc sáp nhập và chỉ duy trì khoảng 4 doanh nghiệp lớn.

Viễn thông Việt Nam bước sang giai đoạn thứ 3

Tại buổi Toạ đàm "Triển vọng viễn thông Việt Nam 2012" do Câu lạc bộ Nhà báo CNTT-TT Việt Nam (ICT Press Club) tổ chức chiều ngày 28/12, điểm lại chặng đường đã qua của viễn thông Việt Nam, TS Mai Liêm Trực, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục Bưu điện cho biết: Sau giai đoạn 1 nỗ lực số hoá các dịch vụ viễn thông trong những năm 1980, thị trường viễn thông năm 1998-1999 đã bắt đầu bộc lộ thách thức của giai đoạn mới, nguyên nhân chủ yếu là do độc quyền doanh nghiệp, mặc dù những cuộc thi giao dịch viên đã được thực hiện nhưng tình trạng độc quyền không thay đổi được nhiều. Cơ chế độc quyền trong những năm này đã biểu diện sự trì trệ trong nội bộ VNPT.

Tại thời điểm đó, mặc dù xã hội vẫn chưa cảm nhận được sự trì trệ, thiệt thòi do độc quyền doanh nghiệp nhưng Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã yêu cầu xem xét việc mở cửa cạnh tranh trong ngành viễn thông. Sau đó, chất lượng dịch vụ viễn thông có cải thiện nhưng giá cước vẫn còn cao với đại đa số người dân và việc chăm sóc khách hàng còn hạn chế.

Cũng theo TS Mai Liêm Trực, những năm 2000, thị trường viễn thông bắt đầu bước sang giai đoạn thứ 2 với sự ra đời của Chỉ thị 58 và việc Tổng cục Bưu điện để Viettel tham gia kinh doanh điện thoại đường dài trong nước và quốc tế (người thứ 2 tham gia thị trường) mở đầu thời kỳ "chuyển từ độc quyền sang giai đoạn cạnh tranh" trong lĩnh vực viễn thông. Khi đó, Tổng cục Bưu điện đã gặp rất nhiều sức ép. Tuy nhiên, sau 10 năm, thị trường viễn thông Việt Nam đã có sự "thay da đổi thịt" thể hiện qua mức độ phổ cập dịch vụ cao và giá cước ở mức thấp trên thế giới đến mức anh xe ôm hay bà bán rau ngoài chợ cũng có "alo".

Mặc dù vậy, trong 2 năm gần đây (2010 - 2011), thị trường viễn thông đã bộc lộ nguy cơ của sự phát triển không bền vững, có thể gây thiệt thòi cho người tiêu dùng và nhà nước. Sự đầu tư của các doanh nghiệp viễn thông đã có hạn chế do khủng hoảng kinh tế, ảnh hưởng tới chất lượng mạng và dịch vụ. Các doanh nghiệp mới ra đời hoạt động rất khó khăn và có nguy cơ phá sản. Thị trường viễn thông Việt Nam đang bước sang giai đoạn thứ 3.

“Hiệu quả quản lý và đầu tư viễn thông còn có những hạn chế nhất định khi hầu hết các doanh nghiệp lớn đều là doanh nghiệp nhà nước, hơn 90% tài sản của mạng viễn thông Việt Nam đều của nhà nước. Có thể liên tưởng “bức tranh” thị trường hiện nay giống như một gia đình có một ông bố cho các con ăn riêng rồi để các con cạnh tranh với nhau. Khi đó chưa thể có sự cạnh tranh thực sự”, TS. Mai Liêm Trực chia sẻ.

Chia sẻ về 3 giai đoạn của viễn thông Việt Nam, theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Tổng Giám đốc Viettel, giai đoạn 1 là giai đoạn 5% người dân được tiếp cận dịch vụ và ngành ICT trở thành ngành kinh tế, công nghệ cao, hạ tầng quan trọng của quốc gia. Giai đoạn 2 với xu thế "bình dân hoá" và phát triển nhanh của dịch vụ viễn thông, điện thoại đã được đưa đến mọi người, mọi nhà. Giai đoạn tiếp theo sẽ đưa Internet băng rộng, đưa CNTT vào mọi ngõ ngách của đời sống, các cá nhân... "Khi đó, ICT sẽ không chỉ gói gọn trong "alo" mà sẽ được đưa đến mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội", ông Hùng nhấn mạnh.

Sẽ phải cổ phần hoá các doanh nghiệp

Việt Nam hiện nay có quá nhiều doanh nghiệp viễn thông, dẫn đến việc sử dụng tài nguyên tần số, kho số gặp nhiều khó khăn. "Bản thân, cơ quan nhà nước có đôi lúc loạng choạng, hơi bị động, không vững tay dẫn đến việc cấp phép cho nhiều doanh nghiệp viễn thông để rồi các dẫn đến tình trạng lao đao, ảnh hưởng tới doanh nghiệp và người dân", TS Mai Liêm Trực cho biết thêm.

Để khắc phục hiện trạng này, theo ông Trực, nhà nước phải vững tay sắp xếp lại các doanh nghiệp viễn thông, thậm chí thu hồi lại một số giấy phép, chỉ duy trì khoảng 4 doanh nghiệp lớn chứ không thể để quá nhiều doanh nghiệp tồn tại như hiện nay.

Ngoài ra, các cơ quan quản lý nên tính đến phương án cổ phần hoá doanh nghiệp, ví dụ, ngoài Viettel nên để 100% nhà nước (do liên quan đến an ninh quốc phòng), các doanh nghiệp khác như VNPT, nhà nước chỉ nên chiếm 51%. Đàm phán WTO đã có lộ trình, phía Việt Nam có thể chiếm cổ phần khống chế 51% so với doanh nghiệp quốc tế.

Sở dĩ, 10 năm qua doanh nghiệp nhà nước vẫn phát triển được là do thị trường khi đó tốt (mật độ tăng dần, giá giảm dần). Nhưng khi thị trường không còn tốt như thời điểm hiện tại, nếu giữ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thì chắc chắn trong thời gian tới sẽ chỉ còn trụ được 1-2 doanh nghiệp. Chính vì thế, trong điều kiện viễn thông 10 năm sắp tới, Chính phủ và Bộ TT&TT phải có các phương án sắp xếp, cổ phần hoá doanh nghiệp. "Tôi không lo về tình trạng độc quyền viễn thông trong thời gian tới mà chủ yếu lo đến chất lượng viễn thông", TS Mai Liêm Trực khẳng định.

Tán đồng quan điểm nêu trên, Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Thành Hưng cũng cho rằng, thị trường viễn thông Việt Nam chưa cạnh tranh đúng nghĩa vì lực lượng chủ đạo vẫn là doanh nghiệp nhà nước. Thời gian tới sẽ tiếp tục xu hướng sáp nhập hoặc giải thể trong ngành viễn thông. Quá trình sáp nhập, cải tổ sẽ rõ nét “màu sắc” của Nhà nước. Ví dụ việc sáp nhập EVN Telecom vào Viettel vừa qua là quyết định, ý chí của nhà nước. Bởi khi thị trường chưa thực sự cạnh tranh thì khó có thể bình luận về việc quyết định của nhà nước phải phù hợp với cơ chế thị trường.

1a.jpg

Không để xảy ra hiện tượng doanh nghiệp độc quyền

Chia sẻ thêm trường hợp VNPT bị bắt buộc phải giải bài toán hợp nhất hoặc cổ phần hoá 2 mạng VinaPhone và MobiFone để tuân thủ Nghị định 25 của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông (theo Nghị định 25, một tổ chức, cá nhân đã sở hữu trên 20% vốn điều lệ hoặc cổ phần trong một doanh nghiệp viễn thông thì không được sở hữu trên 20% vốn điều lệ hoặc cổ phần của doanh nghiệp viễn thông khác cùng kinh doanh trong một thị trường dịch vụ viễn thông thuộc danh mục dịch vụ viễn thông do Bộ TT&TT quy định), Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng cho biết: "Nghị định 25 thể hiện mong muốn của nhà nước tạo thị trường lành mạnh, không để xảy ra hiện tượng độc quyền doanh nghiệp. Có thể lúc này VNPT cảm thấy khiên cưỡng với Nghị định 25 nhưng nhìn chung thì Nghị định 25 phù hợp với thị trường. Cần có thời gian để xem xét kỹ hơn việc tái cấu trúc VNPT sao cho phù hợp".

“Thời gian tới, Bộ TT&TT sẽ tiếp tục tham mưu với Chính phủ để hướng tới xây dựng một thị trường viễn thông cạnh tranh hơn, cương quyết cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước để có thị trường viễn thông cạnh tranh thực sự, những bất cập như VNPT phàn nàn về cơ chế chính sách Viettel đang được ưu đãi sẽ không còn.

(Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Thành Hưng)

1a.jpg

 

Dù chỉ còn lại 1-2 doanh nghiệp thì cũng sẽ không quay lại độc quyền

Dù sáp nhập hay cấu trúc còn chỉ còn lại 1-2 doanh nghiệp thì thị trường cũng sẽ không quay lại vấn đề độc quyền. Việc cấu trúc lại doanh nghiệp xảy ra cuối năm 2011 là theo quy luật buộc phải xảy ra bởi vì nếu tiếp tục duy trì thì doanh nghiệp sẽ phá sản. Nghị định 25 ra đời, EVN Telecom hợp nhất Viettel là điều chắc chắn xảy ra nếu không sẽ tự tiêu diệt lẫn nhau. Một vấn đề được đặt ra, ai sẽ là người thực hiện việc cấu trúc doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp năng động thì sẽ tự làm, còn doanh nghiệp yếu hơn sẽ phải chờ nhà nước. Về vấn đề thoái vốn, sáp nhập hay cổ phần hoá VinaPhone và MobiFone, VNPT sẽ tìm ra phương án bảo toàn doanh nghiệp hoặc tự định đoạt để tiếp tục phát triển và nếu đi trái quy luật thì VNPT sẽ gặp khó khăn.

(Ông Bùi Quốc Việt, Giám đốc Trung tâm Thông tin & Quan hệ công chúng VNPT)

Chỉ còn lại 2 "ông lớn" tính cạnh tranh của thị trường sẽ giảm đi

Xu hướng chung của thị trường viễn thông các nước trên thế giới thường có 3 – 4 hãng lớn nắm phần lớn thị phần. Chẳng hạn như Trung Quốc có 3 mạng gồm China Mobile, China Unicom, China Telecom; Mỹ có 4 “đại gia” là AT&T, T-Moblie, Verizon, Sprint… Theo Sách Trắng CNTT-TT năm 2011, Viettel chiếm 36,72% thị phần, MobiFone chiếm 29,11% và VinaPhone chiếm 28,71% thị phần. “Nếu trong 3 “ông lớn” biến mất 1 “ông”, chỉ còn lại 2 thì về lý thuyết, tính cạnh tranh của thị trường sẽ giảm đi. Sẽ có rủi ro là 2 “ông” bắt tay nhau để quyết định thị trường.

(Ông Lê Hồng Hà, Phó Chủ tịch Hội Tin học Việt Nam)